Recent Posts

Bài dự thi cuộc thi viết về những kỷ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường mến yêu

Bài dự thi cuộc thi viết về những kỷ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường mến yêu

Bài dự thi cuộc thi viết về những kỷ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường mến yêu Bài làm Tuổi học trò – cái tuổi hồn nhiên, trong sáng với biết bao kỷ niệm vui, buồn, những sự ngộ nghĩnh đáng yêu […]

Suy nghĩ về lòng dũng cảm trong xã hội hiện nay

Suy nghĩ về lòng dũng cảm trong xã hội hiện nay

Suy nghĩ về lòng dũng cảm trong xã hội hiện nay Bài làm Trong cuộc sống có biết bao nhiêu khó khăn giăng mắc chính vì thế con người ngoài việc có kiến thức, sự thông minh ra thì phải có lòng dũng cảm. Và […]

Suy nghĩ của em về truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao

Suy nghĩ của em về truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao

Suy nghĩ của em về truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao

Bài làm

Nhắc đến dòng văn hiện thực thì không thể không nhắc đến những nhà văn hiện thực nhân đạo như: Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao,….Nói riêng về nhà văn Nam Cao thì có rất nhiều các sáng tác chuẩn mực và vô cùng đặc sắc mang được ý nghĩa nhân đạo, nhân sinh vô cùng sâu sắc. Một trong số các tác phẩm viết về người nông dân của nhà văn Nam Cao không thể không nhắc đến Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên. Truyện ngắn này thực sự cảm động biết bao nhiêu vì đã phản ánh được chân thực số phận người nông dân trong xã hội cũ.

Truyện ngắn “Lão Hạc” xuất hiện lần đầu trên tuần báo “Tiểu thuyết thứ bảy” năm 1943 và đã nhận được những lời đánh giá là một trong những truyện ngắn xuất sắc viết tình cảnh của người nông dân trước Cách mạng. Người đọc đọc tác phẩm cũng sẽ cảm thấy sự bùi ngùi và thương cảm cho kiếp sống bèo bọt nổi lên trên mặt bể hiện tượng. Đồng thời hiểu được sự tha hóa biến chất của một bộ phận tầng lớp nông dân trong xã hội đương thời lúc bấy giờ.

Đọc truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao giúp ta hiểu về tình cảnh thống khổ của người nông dân trước Cách mạng qua nhân vật Lão Hạc. Có thể thấy được cuộc đời của lão Hạc được biết đến chính là một chuỗi những đau khổ và bất hạnh. Lão Hạc hiện lên là một kiếp đời chua chát và đắng cay. Khi đó thì vợ lão mất sớm, một mình lão “gà trống nuôi con”. Rồi đến tuổi anh con trai lấy vợ thì nhà lão nghèo quá, nhà gái lại thách cao cho nên anh con trai không lấy được vợ, phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su. Mà đồn điền cao su được biết đến là một nơi đi dễ khó về. Trong những ngày tháng xa con, lão sống trong nỗi lo âu, sống trong cảnh phiền muộn vì chưa làm tròn bổn phận của người cha. Thực sự sẽ chẳng còn gì xót xa hơn cảnh già gần đất xa trời, lão Hạc lúc này đây cũng phải sống trong cô độc, thui thủi một mình. Lão Hạc như cứ bầu bạn với con chó vàng, chó vàng chính là kỷ vật của người con để lại. Lão Hã vô cùng  yêu nó, coi nó như người thân. Nhưng có thể thấy được gia cảnh nghèo ngày càng túng quẫn ngày càng đe dọa lão. Lão Hạc phải bán “cậu Vàng” – thực sự đây là một quyết định không hề mong muốn. Nhưng nếu lão không bán cậu Vàng đi thì sẽ không có tiền nôi nó. Người nông dân già này cứ đắn đo, day dứt khi trót đánh lừa một con chó.

Từ khi bán cạu Vàng lão Hạc như kiến ăn bằng củ chuối, con ốc,…nhưng khi không còn lo được nữa thì lão quyết định tìm đến bả chó. Lão Hạc đã chết vì không còn đường sống. Hình ảnh một lão nông dân suốt đời lao động cần cù ấy không thể sống cho dù là sống trong nghèo khổ. Chính với cuộc sống khốn cùng và cái chết bi thương của lão Hạc cũng đã nói lên thấm thía số phận thê thảm của người nông dân trong cái xã hội tăm tối đương thời. Chắc chắn rằng phải cảm thông sâu sắc với người nông dân, đồng thời cũng phải thấu hiểu nỗi đau của họ thì nhà văn Nam Cao mới thấy được cái tình cảnh khốn cùng của người nông dân.

Hay truyện ngắn còn phản ánh số phận nghèo khổ của người nông dân thông qua hình ảnh nghèo khổ của cậu con trai lão Hạc. Cũng chính vì nghèo đói, không có được hạnh phúc bình dị như mình mong muốn thì anh con trai phẫn chí bỏ làng đi đồn điền cao su. Và chính anh ra đi với hi vọng “có bạc trăm” mới trở về” vì khổ quá, sống nục quá. Ngay cả khi biết đi đến chốn đó khó có ngày trở về.

Rồi nhân vật ông giáo cũng là một hiện thân cho những người nghèo khổ. Nếu như lão Hạc yêu quý cậu Vàng như thế nào thì ông giáo cũng yêu sách của ông ý như vậy. Thế nhưng vì ốm đau mà ông giáo đã phải bán sách của mình đi. Hay còn như Binh Tư vì nghèo khó mà đã đánh đổi lương tâm của mình mà đi bả chó.

Từ tất cả những nhân vật được xây dựng hông chỉ giúp ta hiểu được nỗi đau trực tiếp của người nông dân thôi đâu mà ruyện còn giúp ta hiểu được căn nguyên sâu xa nỗi đau của họ. Và đó cũng chính là sự nghèo đói. Họ sống trong đói nghèo và bị cái đói nghèo đe dọa.

Khi đọc truyện “Lão Hạc” ta bắt gặp bao con người, bao số phân, có biết bao mảnh đời đáng thương, bao tấm lòng đáng trọng. Giữa bóng tối cuộc đời cùng quẫn sau lũy tre làng, ta vẫn tìm thấy ít nhiều ánh sáng tâm hồn nhân hậu, chan chứa yêu thương. Không chỉ như thế truyện giúp ta hiểu sự tha hoá biến chất của một bộ phận tầng lớp nông dân trong xã hội đương thời.

Tóm lại ta thấy được truyện ngắn “Lão Hạc” dường như cũng đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc sâu sắc. Chỉ với thông qua câu chuyện, nhà văn Nam Cao muốn bày tỏ sự cảm thông với tình cảnh thống khổ của người nông dân và hơn hết là ca ngợi những phẩm chất quý báu ở họ. Đồng thời cũng đã tố cáo, lên án xã hội cũ đã đẩy con người vào bi kịch đói khổ, bị tha hóa biến chất. Tác phẩm “Lão Hạc” cũng chính là một tác phẩm đặc sắc của nhà văn Nam Cao để lại nhiều dấu ấn trong lòng bạn đọc.

Tuệ Tuệ

Suy nghĩ của em về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân

Suy nghĩ của em về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân

Suy nghĩ của em về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân Bài làm Nhà văn Kim Lân được mệnh danh là một nhà văn tên tuổi viết về đề tài người nông dân. Ngoài tác phẩm “Vợ nhặt” ra thì […]

Suy nghĩ về tình mẫu tử trong xã hội hiện nay

Suy nghĩ về tình mẫu tử trong xã hội hiện nay

Suy nghĩ về tình mẫu tử trong xã hội hiện nay Bài làm Từ xưa đến nay có thể thấy được chính tình cảm của cha mẹ dành cho con cái của mình là tình cảm thiêng liêng và đáng quý nhất. Thực sự chính […]

Suy nghĩ của em về bài thơ Viếng Lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương

Suy nghĩ của em về bài thơ Viếng Lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương

Suy nghĩ của em về bài thơ Viếng Lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương

Bài làm

Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam cho nên có rất nhiều tác phẩm thi can viết về Bác thật hay và thật xúc động. Và trong số những bài thơ viết về Bác Hồ thì thi phẩm Viếng lăng Bác của Viễn Phương là một bài thơ đặc sắc. Bài thơ này cũng đã gây cho chính bản em nhiều xúc động nhất. Không khó để có thể nhận ra được rằng bao trùm toàn bài thơ là niềm thương cảm vô hạn, lòng kính yêu và biết ơn sâu sắc của nhà thơ đối với Bác Hồ vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Ngay từ câu thơ mở đầu “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” như một lời nói nghẹn ngào của đứa con đi xa trở về thăm viếng hương hồn Bác Hồ kính yêu. Tình cảm ấy là tình cảm chung của đồng bào và chiến sĩ miền Nam đối với lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt.

Nhà thơ Viễn Phương dường như cứ đứng lặng đi, trầm ngâm từ phía xa nhìn lăng Bác. Rồi cả hình ảnh của hàng tre để lại cho anh nhiều cảm xúc và liên tưởng thấm thía. Màu tre xanh thân thuộc của làng quê Việt Nam thực sự luôn luôn luôn gắn bó với tâm hồn của Bác. Vậy là Bác đã đi xa thế nhưng tâm hồn Bác vẫn gắn bó thiết tha với quê hương xứ sở Việt Nam không bao giờ dứt:

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

Tại sao tác giả Viên Phương lại chọn hình ảnh cây tre, “hàng tre xanh xanh”… cứ đứng thẳng hàng như đang ẩn hiện thấp thoáng trước lăng Bác? Bởi vì lúc này đây thì hình ảnh cây tre đã được nhân hóa như biểu tượng ca ngợi dáng đứng của con người Việt Nam: kiên cường, bất khuất, mộc mạc, thanh cao… Hình ảnh cây tre trong lời thơ của Viễn Phương dường như cũng đã biểu thị niềm tự hào dân tộc làm cho mỗi chúng ta cảm nhận sâu sắc về phẩm chất cao quý của vị lãnh tụ – Bác Hồ cũng như của con người Việt Nam trong bốn nghìn năm lịch sử.

Có thể nhận thấy được trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại có nhiều bài thơ nói đến hình ảnh mặt trời cũng được nhắc đến đó là câu thơ “Mặt trời chân lí chói qua tim “( Từ ấy – Tố Hữu). Hay ta lại bắt gặp thêm một hình ảnh  về mặt trời của tác giả Nguyễn Khoa Điềm đó là:

Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng

Tác giả Viễn Phương có một lối nói rất hay và sáng tạo, đem đến cho em nhiều liên tưởng thú vị hơn tất cả:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng,

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Người đọc có thể dễ dàng cảm nhận được hình ảnh  mặt trời ở đây “mặt trời… rất đỏ” là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho đạo đức, ẩn dụ và nói về lòng yêu nước, tinh thần cách mạng sáng ngời của Bác Hồ. Hình ảnh mặt trời thiên nhiên thì vĩnh hằng cũng tựa giống như tên tuổi và sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ đời đời bất tử.

Nhà thơ Viễn Phương đã ví dòng người vô tận đến viếng lăng Bác như “Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân “. Chắc chắn rằng trong mỗi người Việt Nam đến viếng Bác với tất cả tấm lòng kính yêu và biết ơn vô hạn. Ai ai cũng muốn đến dâng lên Người bao nhiêu điều tốt đẹp, nào thì những thành tích tốt đẹp, những bông hoa tươi thắm nảy nở trong sản xuất, chiến đấu và học tập để bày tỏ lòng biết ơn, sự thành kính đối với người. Không chỉ thế mà hương hoa của hồn người, hương hoa của đất nước kính dâng Người thật đẹp, thật gần gũi và xúc động biết bao nhiêu. Thông qua đây người đọc có thể dễ dàng cảm nhận được với cách nói của Viễn Phương rất hay và xúc động. Thêm với đó chính là lòng thương tiếc, kính yêu Bác Hồ gắn liền với niềm tự hào của nhân dân ta – nhớ Bác và làm theo Di chúc của Bác Hồ đã để lại cho dân tộc.

Đọc đến khổ cuối, cảm xúc thơ dồn nén, sâu lắng, làm xúc động lòng em biết bao nhiêu. Chính với lời hứa thiêng liêng của nhà thơ đối với hương hồn Bác trước khi trở lại miền Nam thật vô cùng chân thành, vô cùng sâu sắc biết bao nhiêu. Người đọc có thể nhận thấy được chính với câu mở đầu nhà thơ viết dòng thơ đầy cảm xúc: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác, và cho đến đây Viễn Phương lại nghẹn ngào nói rằng: Mai về miền Nam thương trào nước mắt… Thực sự câu thơ có sức nặng, có biết bao lưu luyến, buồn thương đến khó nói. Tác giả ra về trong muôn dòng lệ ngắn dài. Rồi sự xúc động tột cùng, nhà thơ muốn hóa thân làm “con chim hót”, mong muốn để làm đóa hoa tỏa hương, hay còn mong muốn để làm cây tre trung hiếu,…với những mong muốn này để có thể được đền ơn đáp nghĩa, để được mãi mãi sống bên Người. Không có gì ngạc nhiên khi đến ba lần nhà thơ nhấc lại hai chữ “muốn làm” như  thế và khi đó thì giọng thơ trở nên thiết tha, cảm động. Thực sự đọc những câu thơ của Viễn Phương vừa giàu hình tượng vừa dào dạt biểu cảm, đã khơi gợi trong tâm hồn em bao tình thương tiếc và biết ơn vô hạn đối với Bác Hồ kính yêu. Nếu như đọc trong câu thơ của Viễn Phương tuy có tiếng khóc thế nhưng không làm cho chúng ta bi lụy, yếu mềm, trái lại, nó đã nâng cánh tâm hồn chúng ta lên biết bao nhiêu cảm xúc:

Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi

Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn

 (Bác ơi – Tố Hữu)

Trong mỗi chúng ta thì ai ai cũng cảm thấy phải sống xứng đáng, phải sống đẹp để trở thành”cây tre trung hiếu”của đất nước quê hương:

Mai về miền Nam, thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

Hình ảnh “Cây tre trung hiếu” là một hình ảnh ẩn dụ đầy sáng tạo, thể hiện đạo lí sáng ngời của con người Việt Nam luôn luôn tận trung với nước, tận hiếu với dân, đời đời trung thành với sự nghiệp cách mạng của Bác.

Khi mà Bác Hồ đã đi xa, nhưng hình ảnh Bác, sự nghiệp cách mạng và công đức của Bác vẫn sống mãi trong tâm hồn dân tộc Việt Nam ta. Thi phẩm “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương đã thể hiên rất hay và chân thành tình cảm của hàng triệu con người Việt Nam đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu.

Tuệ Tuệ

Cảm nghĩ về đêm trăng trung thu

Cảm nghĩ về đêm trăng trung thu

Cảm nghĩ về đêm trăng trung thu ở quê em Bài làm Trong chúng ta không ai là không biết đến ngày trung thu chính là khoảng thời gian mà tất cả những em thiếu nhi Việt Nam đều trở nên vô cùng hào hứng […]

Cảm nghĩ về mái trường thân yêu

Cảm nghĩ về mái trường thân yêu

Cảm nghĩ về mái trường thân yêu Bài làm Thời học sinh ai ai cũng sẽ có những kỷ niệm cho dù vui hay buồn đi chăng nữa thì đó cũng sẽ mãi mãi là một kỷ niệm thật đẹp. Hình ảnh mái trường thân […]

Phân tích nhân vật Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây

Phân tích nhân vật Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây

Phân tích nhân vật Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây

Bài làm

Đăm Săn là một trong những hình tượng nhân vật anh hùng nổi tiếng bậc nhất trong sử thi Tây Nguyên. Người anh hùng ấy với sức mạnh, vẻ đẹp và tài năng đại diện cho cả một cộng đồng dân tộc. Người anh hùng ấy luôn làm nên những kỳ tích vĩ mô đem lại cuộc sống ấm no cho đồng bào cũng như mang lại niềm tự hào cho cộng đồng, thắp sáng lên vẻ đẹp truyền thống nối tiếp cho những thế hệ sau.

Đăm Săn là tù trưởng giàu có và bề thế nổi danh cả một vùng, vị tù trưởng này có hai người vợ là Hơ Nhị, Hơ Bhị, hai người vợ xinh đẹp và giỏi giang càng giúp Đăm Săn củng cố thêm vị trí của mình trong lòng cộng đồng. Tù trường sắt Mtai Mxây thấy vậy thì đem lòng đố kị, nhân lúc Đăm Săn cùng con dân buôn làng đi săn bắt bèn dùng mưu kế hèn hạ bắt cóc người vợ tên Hơ Nhị của Đăm Săn đi.

Đối với cộng đồng người Ê- đê vốn theo chế độ mẫu hệ, việc bị cướp vợ là một nỗi nhục ê chề không thể chấp nhận được, không chỉ là đối với người bị cướp vợ mà còn đối với cả cộng đồng. Chính vì vậy, việc đối đầu lại với tù trưởng sắt Mtao Mxây, đấu tranh giành lại người vợ thân yêu của Đăm Săn là điều cần thiết và vô cùng chính đáng.

Ngay từ khi bước vào trân quyết chiến, tinh thần chung phía bên Đăm Săn đã luôn hừng hực khí thế, họ quyết chiến với lòng nhiệt tình vì sự chính nghĩa, về lẽ phải trong cuộc sống, hành động của tù trưởng sắt là rất đáng lên án, cướp vợ người khác, phá hoại hạnh phúc gia đình. Và vẻ đẹp của Đam Săn hiện rõ ngay từ khi chàng bước chân vào lãnh địa của Mtao Mxây. Không chút đớn hèn, Đăm Săn cứ thẳng đường mà tiến bước, xông thẳng vào lãnh địa chính của tên tù trưởng Sắt. Đăm Săn xông tới tận chân cầu thang nhà kẻ thù mà dõng dạc khiêu chiến “Ơ diêng! Ta thách nhà ngươi xuống đây đọ đao với ta đấy”. Ngược lại, tên tù trưởng Sắt lại có vẻ khiếp nhược: “hắn đi từ nhà trong ra nhà ngoài, dáng tần ngần do dự, mỗi bước mỗi đắn đo”. Hắn còn có suy nghĩ: “Ta sợ ngươi đâm ta khi ta đang đi lắm”. Đáp lại, Đăm Săn khẳng khái trả lời, bộc lộ sự khinh bỉ kẻ thù bằng tinh thần thượng võ của mình: “Sao ta lại đâm ngươi khi ngươi đang đi nhỉ? Ngươi xem, đến con lợn nái của nhà ngwoi dưới đất, ta còn k thèm đâm nữa là”.

Chỉ cần chừng ấy những chi tiết thôi cũng đủ để cho người đọc nhìn nhận thấy được tâm thế và bản lĩnh của hai vị tù trưởng này, Tù trưởng sắt Mtao Mxây thì đớn hèn, ngay cả đế cướp vợ người khác cũng phải rình lúc chủ ngôi nhà đi vắng, còn Đăm Săn trước sau như một với tinh thần trượng nghĩa và của sự chính nghĩa. Mới vào cuộc giao đấu mà Đăm Săn đã nhường địch thủ quyền chủ động tấn công nhưng tên tù trưởng sắt Mtao Mxây lại hèn nhát, sợ sệt, tìm mọi cách để trì hoãn, và đến khi không còn cách nào để đùn đẩy thì hắn cũng vung khiên mà múa với tiếng khiên rất tức cười: “kêu lạch xạch như quả mướp khô.” cái hành động vung kiếm thôi cũng chậm chap, vụng về. Và đến lúc Đăm Săn thể hiện bản lĩnh của mình. Sử dụng biện pháp nghệ thtuật so sánh đậm chất dân gian, tác giả đã cho ta thấy sự chậm chạp, vụng về, kém cỏi của Mtao Mxây. Còn Đăm Săn, với bản lĩnh của người anh hùng chiến trận, khi Mxây múa khiên, Đăm Săn có màn múa khiên như phô diễn tất cả sức mạnh, vẻ đẹp và sự dũng mãnh “Một lần xốc tới chàng vượt một đồi tranh. Một lần xốc tới nữa, chàng vượt một đồi lồ ô. Chàng chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây”. Những câu văn có chút khoa trương, khuyếch đại nhưng không vì thế mà khiến khán giả nghi kị vì độ chính xác mà vẻ đẹp của chàng Đăm Săn càng được thể hiện nổi bật hơn cả. Ngay lúc này, Mtao Mxây đã trở nên hoảng loạn, chạy trốn, hắn vội va “bước cao bước thấp chạy hết bãi đông sang bãi tây” và vung dao chém lại chàng nhưng chỉ trúng một cái chão cột trâu. Mới có một hiệp giao đấu mà dường như Đăm Săn đã nắm chủ hoàn toàn tình thế.

Vào đến hiệp đấu thứ 2, Đăm Săn được người vợ của mình tiếp thêm sức mạnh với một miếng trầu, khí thế càng thêm mạnh mẽ: “chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc… Khi chàng múa chạy nước kiệu, quả núi 3 lần rạn nứt, 3 đồi tranh bật rễ bay tung”. Đăm Săn như hóa cùng những ngọn gió, bão, lốc, từng bước chân, mũi giáo, chiếc khiên cũng hừng hực khí thế. Và cây giáo thần của Đăm Săn nhằm vào đùi, vào người Mtao Mxây mà phóng tới, lần nào cũng đâm trúng nhưng không thủng được da thịt của Mxây. Đăm Săn dũng mãnh thể hiện uy lực và sức mạnh của mình, nhưng không thể hạ gục được Mta Mxây vì hắn có bộ giáp sắt bảo hộ. Nó đã khiến cho Đăm Săn không thể kết thúc trận đấu theo ý mình, mặc dù chàng hơn hắn Mxây sức khoẻ, sự nhanh nhẹn, lòng dũng cảm.

Bước sang hiệp giao đấu thứ ba, Đăm Săn vừa chạy, vừa mộng thấy ông trời. Chàng cầu cứu ông trời và được ông trời chỉ dẫn. Đăm Săn như bừng tỉnh, trở nên nhanh nhẹn, quyết liệt và dứt khoát. Nhanh như chớp chàng “chộp ngay lấy cái chày mòn ném trúng vành tai Mtao Mxây, khiến cho cái giáp của Mtao Mxây tức thì rơi xuống loảng xoảng”. Chi tiết này thể hiện sự sáng tạo những chi tiết kỳ ảo của tác giả dân gian, tuy nhiên, được sự trợ giúp của ông Trời để đi đánh kẻ thù không chứng tỏ Đăm Săn yếu đuối hay sức mạnh không lớn lao, mà việc được sự trợ giúp của thần linh càng làm tăng thêm thanh thế uy danh của Đăm Săn. Nó thể hiện mối quan hệ gần gũi, thân tình của chàng với thần linh. Nó cũng chứng tỏ cuộc chiến của chàng là cuộc chiến chính nghĩa nên được thần linh trợ giúp. Và cuối cùng chính nghĩ cũng thuộc về Đăm Săn, tên tù trưởng Sắt bị tiêu diệt.

Sau trận đấu, chiến thắng thuộc về Đăm San và cách giải quyết vấn đề của chàng càng khiến người ta thêm yêu thương và cảm phục chàng, Đăm Săn không hề có bất cứ hành động nào làm tổn hại tới tôi tớ, dân làng của Mtao Mxây, không hề có việc chàng trả thù. Chàng còn có mong muốn đưa dân làng của Mtao Mxây về hoà nhập với bộ tộc của mình để cùng nhau xây dựng một cộng đồng lớn mạnh. Bằng tấm lòng nhân ái, vị tha, Đăm Săn đã chủ động đề nghị, thuyết phục dân làng của Mtao Mxây về với bộ tộc của mình. Đăm Săn chân thành mong muốn cho mọi người có một cuộc sống hạnh phúc và thanh bình.

Không chỉ nghĩ cho bản thân mình, cho gia đình mình, Đăm Săn còn luôn lo nghĩ cho cộng đồng dân tộc, hết mình vì sự bình yên và phồn thịnh của cộng đồng. Chiến thắng của chàng là vô cùng xứng đáng và đáng tự hào.

Minh Anh

Suy nghĩ của em về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương

Suy nghĩ của em về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương

Suy nghĩ của em về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương Bài làm Nguyễn Dữ là một trong những tác giả nổi tiếng của nền văn chương trung đại Việt Nam. Tác phẩm làm nên tên tuổi của […]